Menu

Câu chuyện khói bếp từ trong suốt ký ức người Hà Nộ

Phố phường Hà Nội hiện tại đông đúc, cuộc sống líu tíu bộn bề, chẳng ai còn thời kì nhóm lửa hay kì vọng than hồng. nhiều mẫu bếp thế hệ thành lập cho thích hợp với đời sống hiện đại, tuyệt nhiên chẳng thấy loại nào sở hữu khói. Khói bếp có nhẽ chỉ còn trong suốt ký ức người Hà Nội.

các năm 1980 thế kỷ trước, đầu ngõ Bà Triệu giao phố Tô Hiến Thành với 1 gian nhà lợp mái lá, khu phố dùng làm cho tổ đáp ứng bán nước sôi cho người dân. Bà ngoại tôi là một trong suốt hai người khiến cho việc tại tổ phục vụ này. Ngày đó, nhập tịch cho con cái ăn học cực kỳ cạnh tranh. Tem phiếu chỉ cấp cho người sở hữu hộ tịch và lai lịch rõ ràng. Bà tôi rời quê Vũ Thư, thanh bình theo chồng về Hà Nội từ năm 1956. Nhà đông con, ghé 9 mồm ăn, bà buộc phải xin vào làm tại tổ phục vụ để vừa sở hữu thu nhập vừa mang “thành tích” với khu phố, dễ xin nhập tịch hơn.

trong suốt gian nhà lá ấy, một bệ bếp chạy dài xây bằng gạch đỏ. Bếp chia khiến cho nhị khoang, phía dưới có cửa gió vừa lấy khí vừa là nơi cho than vào. Trên vách bằng đất trộn rơm, bà phơi các nắm than bùn thành hàng ngay ngắn.

Nước đun trong áo quan phi cao quá đầu người. Nước giữ sôi âm ỉ chờ khách tiễn chân phích ghé là rót vào ngay, một hào một phích nước. Bà sử dụng gáo bằng tôn hoa tìm trên phố Thuốc Bắc. Mỗi lần múc nước cần đứng lên trên ghế.

Trời mùa hè nực nội, chưa bước đến cửa tổ đáp ứng, tương đối nóng bếp than đã phả ra như cản bước chân. Thế thế hệ chứng kiến sức chịu đựng loài người thật gớm ghê, nóng mấy bà tôi vẫn cư trú sắp bếp than giữ cho lửa đều và nước luôn sôi. đôi lúc quá lửa, nước sôi trào ra không tính rớt xuống than hồng nghe đánh “xèo”, khói bụi theo đó cuốn lên kèm hơi than tức ngực.

Mùa đông và mùa mưa thì nơi đây là thiên đàng. Mùa đông Hà Nội thời đấy sao nhưng rét, có lẽ rét là vì đứa trẻ nào cũng thiếu áo xống. vui vẻ hơn đứa trẻ khác, tôi được mặc cái quần nhung màu be mang 1 miếng vá với màu trú ngụ đầu gối. Mẹ khéo chọn và khéo khâu cần không dễ nhận ra. anh em tôi chiếm trọn dòng giường tre của bà, hơi ấm từ bếp than hồng như khá ấm của bà ủ ấp hai đứa cháu ngoại say giấc trưa. đôi khi chúng tôi chơi chuyền cùng mấy đứa trong suốt khu dưới nền đất, gian nhà lá rét mướt hâm nóng đôi bàn tay lũ trẻ đang tê cóng, thật dễ dàng trải qua bàn chuyền một, chuyền nhì.

Nhớ về thời cạnh tranh, người Hà Nội chắc ít ai quên bếp than hoa của gánh hàng xôi buổi sớm. Xôi xéo ngày đó thuộc vào món ngon, thứ vàng sáng nhưng không phải ngày nào cũng được ăn dù thèm lắm. Gạo lề lối được lựa chọn kỹ lưỡng đeo ngâm, nhuộm bột nghệ rồi khéo đồ thành món xôi mang màu vàng ruộm, bọc lá sen thơm, che trên từng lát xéo đậu cũng tiến thưởng óng ả, phệ bùi vì lớp mỡ thơm và thật nhiều hành phi giòn, ngon miệng, ngon mắt tới quái lạ.

khi trời còn chưa sáng hẳn, con phố vắng không với bóng người, thế mà bà Minh cùng gánh hàng xôi đã ghé tự bao hiện nay. ông bà tuổi không tính 80, người bé bỏng, luôn mặc chiếc quần lụa đen, áo nâu sòng, đầu chít khăn mỏ quạ, khuôn mặt nhân từ, thao tác nhanh chóng nhưng mà bầy trẻ chúng tôi còn thua xa ko theo kịp. Gánh hàng của bà đặt ngay dưới cổng trường Sông Hồng và mang từ bao hiện nay tôi cũng ko rõ.

 

 

Bếp tập thể trú ngụ Hà Nội trong những năm bao cấp

Tôi thường là khách trước tiên của bà Minh. Dường như bà quét vỉa hè và xếp nhì thúng xôi, tôi giúp bà nhóm bếp than hoa, công tác khuất nhiều thời gian nhất. Gọi là bếp chứ thực lòng chỉ là một dòng đĩa nhôm đen sì, méo mó. Than hoa xếp từng viên tạo thành khe hở và thoáng gió mới bắt được lửa. Châm lửa que đóm, tay vừa đậy gió vừa luồn nhẹ nhàng xuống bên dưới đống than.

Lửa bén vào vài ba viên, thổi nhẹ cho tới khi lan đều mới sử dụng quạt nan quạt đều tay. Nghe thì dễ đó, thế mà tôi bắt buộc qua đời tới 7 hay 8 lượt châm đóm vẫn ko làm cho sao cho lửa cháy lên được. lúc bởi vì gió bự, khi vụng khiến cho than đổ sụp tắt đóm. với khi gần được mà quạt thẳng tay quá, lửa chưa kịp bén sang viên than khác đã tắt ngấm.

những khi ấy bà Minh chẳng bực chút nào, bà cười móm mém rồi tự tay châm lửa. Nháy mắt loại đĩa trở nên hồng rực. Bà nhanh nhảu đặt cái cặp lồng màu nâu cũng sai lệch như mẫu đĩa than lên bếp rồi cho mỡ lợn vào. Hành khô thái nhỏ bỏ vào, đợi tí đỉnh rồi múc từng thìa rưới lên trên lớp xéo đậu xanh là được gói xôi hoàn chỉnh. Mùi hành phi quyện vào xôi lề lối làm quang khách chờ sắm hàng cứ rớt nước bọt. Món xôi ấy đã huyễn hoặc bao nhiêu mới người dân khu phố tôi, cho đến tận hiện nay hương nếp hành mỡ vẫn cứ phảng phất trong ký ức.

Cũng chiếc thời cạnh tranh ấy, nhà nào ở Hà Nội cũng sử dụng 1 hoặc vài cái bếp dầu hỏa nấu ăn hàng ngày. Bếp được gò bằng tôn hoặc bằng sắt, sơn tráng men màu xanh dưa hấu. Bếp dầu mang cấu tạo tương đối dễ dàng gồm bầu chứa dầu, bấc, bộ dẫn bấc, chụp gió và mặt kiềng 3 chân. đại khái bếp dầu hỏa tương tự loại đèn dầu nhưng sử dụng Ngoài ra nhiều sợi bấc.

Bếp dầu hỏa của Trung Quốc, của Nhà máy Hải Phòng hay của thợ tay chân phố Hàng Thiếc đều khói giống hệt. Khói bếp dầu hỏa sở hữu mùi khét đặc thù, đến hiện thời tôi vẫn nhớ mùi cơm rang đảo trên bếp dầu hỏa. Cơm nguội thừa từ chiều hôm trước rang với tóp mỡ và dưa cải muối ngon phải biết.

Cũng thi thoảng khi đủ nguyên liệu để rang được món cơm như thế, thường chỉ rang cơm với mỡ, tưới thêm ít xì dầu là gạt gẫm loại miệng cho ấm bụng đi học. Rang cơm kiểu nào bằng bếp dầu cũng ám mùi khét. Tôi ăn và ngửi mãi đâm ra nghiện, bởi thế rang cơm nhưng mà không sở hữu mùi đấy là không ngắm nhìn ngon.

Đun bếp dầu mang nhiều dòng khổ: buộc phải thay bấc lúc hết hoặc bấc bị thối; bếp bị ẩm sau đêm mưa ko che chắn, sáng ra không bắt lửa, khói ám đen kịt đáy xoong nồi… nhưng khổ nhất là lúc hết dầu. Được mẹ sai đi tìm, tôi buộc can nhựa 10 lít đằng sau xe đạp hợp nhất, đạp 1 mạch ra đầu phố Nguyễn Công Trứ.

Thời đó thiếu dầu hỏa, chưa kịp hỏi cô viên chức hợp tác xã đã lắc đầu báo hết dầu. Tôi đạp xe ra đầu phố Thi Sách cũng thu được dòng lắc đầu gần giống, quay đầu xe phóng nhanh đến Ngõ nhà dầu đầu phố Khâm Thiên, sắm một can của dân phe, về đến nhà đã quá hiện thời trưa, nóng toát mồ hôi và đói mềm người.

vất vả là thế nhưng mà nụ cười cũng tới với bọn trẻ chúng tôi từ việc nấu ăn dầu. Nghỉ hè, mấy đứa cùng chơi tú lơ khơ bôi nhọ nồi, thua một ván là bị vẽ một râu lên mặt. Vậy là nhà mang hai ông tướng, hai bà tướng, đứa này nhìn đứa kia ủ ấp bụng cười. nụ cười cứ thế lan khắp ngõ nhỏ.

Rồi chẳng hiểu tại sao bếp dầu hỏa biến mất, thay vào ấy là bếp than tổ ong gây bao nỗi kinh hồn cho bầu ko khí Hà Nội. Dẫu biết khá than độc hại, du khách vẫn đua nhau dùng bởi vì hà tiện, than rẻ và bếp cũng rẻ. những xưởng đóng than mọc lên như nấm dọc theo đê sông Hồng từ Cảng Phà Đen xuống dưới tận Thanh Trì.

Nhà nào cũng tích trữ ít củi vụn nhóm bếp, sau này người ta còn chế ra loại bếp dây mayso chỉ chuyên để mồi than. Nhóm bếp than tổ ong cũng bắt buộc sở hữu cách, than phải để chỗ ẩm không khô quá thì dễ bén hơn. Củi chặt thành khúc ngắn và ko quá nhỏ xíu xếp xen kẽ dưới đáy bếp, khi cháy hết thành lớp than củi hồng bén sang than tổ ong.

Khói là đặc thù lúc nhóm bếp than tổ ong, chỉ bếp của 1 nhà thôi là khói đã bay kín đặc lối ra vào ngõ. các ngày đông, nấu nướng bằng bếp than tổ ong cũng sở hữu loại thú. Sáng sớm, sương còn giăng chưa rõ mặt người, mấy hộ bán hàng đã dậy nhóm bếp. Bếp xếp hàng dài mặt đường, cùng nhả khói trắng đặc quánh. Khói luẩn quất dưới đám lá bàng đỏ làm cảnh quan thêm mờ ảo. Khói thoảng mùi gỗ thông thơm dịu. Đi trong suốt khói đó buổi sớm chứng kiến tinh thần có phần náo nức hơn.

Phố phường Hà Nội hiện tại đông đúc, cuộc sống hối hả, bề bộn trăm việc, chẳng ai còn thời kì nhóm lửa hay hy vọng than hồng. rộng rãi cái bếp mới ra đời cho phù hợp cùng đời sống văn minh, nào bếp ga, bếp từ, bếp hồng ngoại…, tuyệt nhiên chẳng thấy loại nào mang khói. Khói bếp có lẽ chỉ còn trong ký ức người Hà Nội.

 

Rate this post

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *